| | | | | | | - Sống Đẹp (Mổi Ngày Một Câu Chuyện)
-
-
(ĐÂY CHỈ LÀ WEB BLOG ĐỂ TĂNG CHỈ SỐ TÌM KIẾM CHO WEBSITE CÔNG TY. ĐỂ VÀO WEBSITE CHÍNH THỨC CÔNG TY, VUI LÒNG TRUY CẬP TẠI ĐỊA CHỈ : http://www.tinan.com.vn http://www.tinan.com.vn http://www.tinan.com.vn )
------------------------------- Mong muốn giản đơn nhất ------------------------------------
Mỗi ngày ít nhất một lần, con mèo đen già nua của chúng tôi lại mon men đến gần với bộ dạng như đang cần một nhu cầu đặc biệt nào đó. Nó không có vẻ đòi ăn hay muốn được thả ra ngoài mà dường như nó cần một điều gì đó khác hẳn.
Nếu bạn cho nằm lên đùi, nó sẽ nhảy phốc lên. Mỗi lần như vậy, nó bắt đầu rùng mình khi bạn gãi lưng, xoa cằm cho nó và liên tục vỗ về rằng nó là một con mèo con dễ thương vô cùng.
Con gái tôi giải thích thật đơn giản rằng: "Blackie muốn được âu yếm và chăm sóc".
Blackie không phải là thành viên duy nhất có nhu cầu đó: cả tôi và vợ tôi cũng cần. Tôi chợt nghĩ đến bọn trẻ nhiều nhất, đến nhu cầu được nhận một vòng tay yêu thương, một chỗ ngồi ấm áp trong lòng, một cái nắm tay - những cử chỉ mà đôi khi chỉ cần dành một chút thời gian.
Nếu tôi chỉ có thể làm duy nhất một điều, thì điều mà tôi chọn sẽ là đảm bảo cho mọi trẻ em, ở bất cứ nơi đâu, cũng được âu yếm yêu thương mỗi ngày. Trẻ con, cũng như những chú mèo, rất cần được yêu thương.
- Fred T. Wilhelms Cập nhật : 09/07/07 ------------------------------ ... ------------------------------
------------------------------------ Một hành động của lòng nhân ái -------------------------------------------
Trong suốt thời gian xảy ra nội chiến, Tổng thống Abraham Lincoln vẫn thường đến các bệnh viện để thăm hỏi và trò chuyện với những thương binh đang điều trị ở đó. Một lần, các bác sĩ dẫn Lincoln đến bên giường một người lính trẻ đang gần kề cái chết.
"Tôi có thể làm cho anh được điều gì ngay bây giờ không?" Tổng thống hỏi.
Người lính trẻ rõ ràng không nhận ra Lincoln. Anh cố thều thào: "Xin ông hãy giúp tôi viết một lá thư cho mẹ!"
Bút và giấy được mang tới, và vị Tổng thống bắt đầu nắn nót viết từng chữ mà người lính trẻ có thể đọc được bằng hơi sức yếu ớt còn lại của mình:
"Mẹ yêu quý! Con bị thương rất nặng trong khi đang thi hành nhiệm vụ. Con e rằng con không thể qua khỏi được. Nhưng mẹ ơi, mẹ đừng quá đau buồn vì con nhé. Xin hãy hôn em Mary và John giúp con. Xin ơn trên phù hộ cho bố mẹ."
Người lính đã quá yếu sức và không thể tiếp tục được nữa, nên vị Tổng thống ký tên giùm anh vào cuối bức thư và thêm vào dòng chữ: "Viết thay cho con trai bà - Abraham Lincoln."
Người lính trẻ nhìn vào bức thư, và anh thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy tên người đã giúp anh thực hiện nguyện vọng cuối cùng của mình.
"Ngài chính là Tổng thống ư?" anh hỏi.
"Vâng, tôi đây!" Lincoln trả lời một cách bình thản, và lại tiếp tục hỏi rằng ông có thể làm thêm được gì cho anh.
"Xin ngài hãy nắm lấy tay tôi!" anh nói. "Điều đó sẽ giúp tôi rất nhiều khi phải đối mặt với cái chết!"
Và trong căn phòng tĩnh lặng, vị Tổng thống cao gầy nắm chặt tay anh lính trẻ trong bàn tay mình, nhẹ nhàng nói những lời an ủi, động viên cho đến khi anh ra đi trong thanh thản.
- The Best of Bits & Pieces An act of kindness Cập nhật : 05/07/07 ------------------------------ ... ------------------------------
------------------------ Bài hát từ trái tim -----------------------
Có một người đàn ông tốt bụng cưới được người phụ nữ như ông hằng mơ ước. Tình yêu của họ đơm hoa kết trái và họ sinh hạ được một cô con gái rất xinh xắn, dễ thương.
Khi cô gái đã lớn, người cha vẫn thường ôm cô vào lòng và nói: "Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố". Cô con gái giận dỗi: "Kìa bố, con không còn là một đứa bé nữa". Nhưng người cha luôn cười xòa và đáp: "Đối với bố, con luôn là con gái bé bỏng của bố".
Một ngày kia, cô-con-gái-không-còn-bé-bỏng ấy quyết định rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình để khám phá thế giới xung quanh. Khi cô gái thật sự hiểu về bản thân mình thì cũng là lúc cô hiểu về cha mình hơn. Một trong những điểm mạnh của ông là ông luôn bày tỏ tình thương yêu với gia đình của mình. bất kể cô đang ở đâu, cha vẫn gọi cho cô và nói rằng: "Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố".
Một ngày nọ, cô gái nhận được một cú điện thoại không mong đợi: cha cô đã bị liệt sau một cơn đột quỵ. Ông không thể nói, không thể cười, không thể đi lại... và không thể nói được với cô rằng ông rất yêu cô.
Cô trở về bên cha. Khi bước vào phòng, cô thấy ông nằm đó, trông thật bé nhỏ và ốm yếu. Ông gắng gượng trò chuyện cùng cô nhưng không thể. điều duy nhất mà cô có thể làm là ngồi bên cạnh ông, vòng tay ôm lấy đôi vai bất động của cha mình. Tựa đầu lên ngực cha, cô suy ngẫm nhiều điều. Cô nhớ lại rằng mình luôn cảm thấy được cha che chở, nâng niu từ tấm bé. Cô thấy lòng quặn thắt trước nỗi đau sắp mất đi người cha yêu quý. Không còn nữa rồi những lời yêu thương vỗ về của cha.
Và bỗng nhiên, cô nghe tiếng nhịp đập trái tim người cha. Trái tim ông vẫn đập đều đều, mạnh mẽ, như muốn vượt lên tất cả những phần cơ thể đau yếu còn lại. Và trong giây phút được bình yên trên ngực cha như thế, điều kỳ diệu đã xảy ra: Cô đã nghe được những lời yêu thương mà cô muốn nghe!
Trái tim của người cha phát ra những lời mà miệng ông không còn nói được nữa: "Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố... Bố yêu con..." và cô đã được vỗ về, an ủi bởi những lời nói yêu thương vô hình ấy của cha.
- Patty Hansen Cập nhật : 04/07/07 ------------------------------ ... ------------------------------
----------------------- Tình yêu đích thực ------------------------
Moses Mendelssohn, ông nội của nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức, là một người có vẻ ngoài rất xấu xí. Ngoài vóc người thấp bé, ông còn bị gù lưng nữa.
Một ngày kia, ông tới thăm một thương gia ở Hamburg, người này có cô con gái rất dễ thương tên là Frumtje. Ngay khi gặp Frumtje, Moses đã yêu cô say đắm nhưng tuyệt vọng bởi cô tỏ ra sợ sệt vẻ ngoài xấu xí của ông.
Đến lúc phải ra về, Moses thu hết can đảm đi lên cầu thang vào phòng cô gái, hy vọng có một cơ hội cuối cùng được nói chuyện với cô. Đối với ông, cô là hiện thân cho vẻ đẹp thiên thần, nhưng cô đã làm ông thật buồn khi luôn tránh nhìn ông. Sau những cố gắng để có được một vài câu xã giao, Moses bối rối hỏi cô, “Cô có tin hôn nhân là việc đã được định đoạt bởi kiếp trước trên thiên đường không?”
“Tôi tin”, cô gái trả lời trong khi mắt vẫn nhìn xuống sàn nhà. “Và ông cũng tin chứ?”
“Có, tôi tin như vậy”, ông trả lời. “Cô biết đấy, ở trên thiên đường mỗi khi một cậu bé được sinh ra, Chúa trời cho cậu ấy biết về cô gái mà cậu sẽ cưới làm vợ. Khi tôi sinh ra, cô dâu tương lai của tôi cũng đã được chỉ định. Chúa còn nói thêm rằng vợ tôi sẽ bị gù. Ngay lúc đó, tôi kêu lên: ‘Ôi Chúa, một người phụ nữ gù hẳn sẽ là một thảm kịch. Thưa Ngài, xin Ngài hãy ban cho con cái bướu đó để người vợ của con được xinh đẹp’".
Frumtje ngước lên nhìn vào mắt ông và trong phút chốc, tâm tưởng cô có một sự xáo trộn mãnh liệt. Cô vươn người tới đưa tay cho Mendelssohn nắm lấy và sau đó đã trở thành người vợ tận tụy của ông.
- Barry và Joyce Vissell Cập nhật : 30/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
----------------------------- Vượt qua bức tường câm lặng --------------------------------------
Cuộc phiêu lưu của tôi bắt đầu vào tháng 10 năm 1966 khi cô Neff - bác sĩ trị liệu của tôi - dẫn tôi vào căn phòng cũ kỹ không cửa sổ của cô ấy. Đó là một phụ nữ 30 tuổi, cao khoảng 1,5 mét, nhưng có khả năng khiến những học viên khuyết tật được coi là “bất hợp tác” tại trường Dr. J. P. Lord phải run sợ. Là một trong số đó, tôi sợ đến chết được mỗi khi cô đến gặp tôi mà chẳng hề báo trước.
Tôi vốn được gán cho biệt danh là “thằng nhóc đáng ghét” bởi tôi thường không thực hiện đúng yêu cầu của bác sĩ trị liệu. Tôi còn có vẻ như rất bất trị chỉ vì tôi hoàn toàn không hợp tác với các bác sĩ của mình, kết quả là sau nhiều năm áp dụng các phương pháp trị liệu, tôi vẫn chưa thể đi lại, nói chuyện hay cử động tay chân.
Đôi lúc tôi tự hỏi, tại sao mình phải nỗ lực nhỉ? Cô Neff đã từng nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi luôn cố gắng làm tất cả những gì có thể, tất cả những gì chúng tôi đã áp dụng với những trường hợp tương tự, và nếu vẫn không có kết quả, chúng tôi sẽ tìm kiếm một phương án mới”. Nhưng tất cả các phương pháp, từ cổ truyền đến tân tiến đều chẳng ăn thua gì với tôi.
Hôm ấy, dù không phải giờ trị liệu của mình, tôi vẫn bị đẩy vô văn phòng của cô Neff. Tôi sợ chết điếng và không khỏi hoang mang. Mình lại làm gì sai đây? Họ đã bó tay với chứng bệnh của mình rồi chăng? Hay là mình sắp bị đuổi khỏi trường? Tôi cảm thấy vô cùng ngột ngạt.
Cô Neff đặt tôi ngồi trước bàn cô, còn cô ngồi phía sau bàn, trên một chiếc ghế không tay vịn. Thay vì la mắng tôi như tôi vẫn tiên đoán, cô cho tôi xem vài tấm hình được sao bằng máy rônêô, trên đó là hình của một vật gì đó từa tựa như cái súng cao su dáng lớn nhưng có vẻ kém sắc sảo bị bào tròn ở phần được phân nhánh. Tôi thấy nó thật là lố bịch. Rồi cô cho tôi xem hình một đứa nhóc đang đánh máy với dụng cụ kỳ cục đó được gắn trên đầu.
Thì ra trong thời gian hội nghị giáo viên diễn ra năm đó, cô Neff cùng với một nhà trị liệu về ngôn từ, nhà trị liệu về thể chất và cô Clanton - giáo viên mới của lớp tôi - đã tham dự thêm một cuộc họp nữa tại một ngôi trường đặc biệt khác ở thành phố Iowa. Tại đây, họ đã thấy một sinh viên dùng dụng cụ này để ghi chép bài học.
“Đây là công cụ trị liệu ngôn từ”, cô Neff nghiêm nghị nói, “chứ không phải là đồ chơi hay vũ khí. Chúng tôi nghĩ em có thể sử dụng nó nếu em muốn nhưng sẽ rất khó khăn đấy. Nếu tôi thấy em dùng nó để đâm thọc ai đó thì tôi sẽ tịch thu ngay, hiểu không?”.
Tôi khó nhọc gật đầu.
Cô nói tiếp: “Tại cuộc họp phụ huynh sắp tới, tôi sẽ hướng dẫn để mẹ em về nhà tập thêm cho em những bài tập luyện cơ cổ. Tôi khuyên em nên tập ở nhà vào mỗi sáng vì lúc đó em còn thấy khỏe. Sẽ mệt đấy, nhưng em có thể làm được”.
Sau khi cô Neff thuyết giáo với tôi xong là đến lượt cô Clanton. Khác với những bác sĩ trị liệu khác, vị bác sĩ này chưa từng chứng kiến nhiều thất bại của tôi nên cô chỉ nói một câu đơn giản: “Tôi nghĩ em làm được mà, phải không?”.
Tôi khẽ gật đầu. Thế là cuộc hành trình thoát khỏi sự biệt giam của tôi bắt đầu. Mỗi sáng tôi đều thực hiện những bài tập cơ cổ trước khi đến trường. Sau khi gia đình một người bạn làm giúp tôi một cái máy trị liệu, tôi đã sử dụng dụng cụ đó để lật những trang sách đóng gáy lò xo, để chỉ vào hàng chữ trên tấm bảng ngôn ngữ rất phức tạp do bác sĩ trị liệu ngôn từ đưa ra, và dĩ nhiên để tập cả những bài tập cổ “ngộ nghĩnh”. Thật không thể mô tả cảm giác ngây ngất trước những thành công đầu tiên trong đời mình. Cứ như một giấc mơ vậy! Trước khi có dụng cụ trị liệu ấy, mọi biện pháp các bác sĩ thử cho tôi đều không hiệu quả vì tôi không hợp tác, nên đã phải bỏ cuộc vì tuyệt vọng. Nhưng giờ đây mọi sự đã khác!
Tôi hoàn toàn tin vào cô ấy. Nếu cô bảo rằng tôi có thể bay, thì tôi cũng chẳng ngần ngại gì mà không nhảy ra khỏi tòa nhà Empire State, đập mạnh đôi tay khẳng khiu của mình cho đến khi nào rơi xuống vệ đường mới thôi. Cô ấy vừa là bạn mà cũng là một người thầy. Tôi còn nhớ cô đã cùng chơi bóng chày với lớp tôi như thế nào để “đền bù” lại một giờ nghỉ giải lao buồn tẻ mà chúng tôi đã phải ngồi trong im lặng để xem một vở kịch câm. Vì vậy tôi cố gắng hết sức để làm vui lòng cô, không để tâm lắm đến thất bại trong phương án điều trị mới này.
Giáo viên và các bác sĩ trị liệu của tôi cho rằng tôi rất thông minh bởi vì họ đã quan sát đôi mắt tôi, để ý những biểu hiện trên gương mặt tôi mỗi khi tôi chăm chú nghe giảng. Nhưng cô Clanton lại nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi không có cách nào để kiểm tra kiến thức mỗi môn học của cậu bé cả”.
Đỉnh cao của cuộc phiêu lưu này là khi cô Neff đặt tôi vào chiếc ghế tựa có tay vịn. Cô ấy phải buộc chặt tôi vì tôi không thể tự giữ thăng bằng. Rồi cô ấy dùng một miếng vải để cột một cây bút trên đầu tôi, sau đó cô đẩy tôi đến chỗ đặt một chiếc máy đánh chữ màu đen cổ lỗ sĩ. Tôi cược là cái máy ấy từng được Thomas Edison sử dụng.
Cô Neff bảo tôi mở cái máy cũ kỹ đó ra. Thật ngạc nhiên, tôi làm được một cách nhanh chóng! Cô bảo tôi đánh máy tên mình. Tôi cũng làm được. Cô bảo tôi gõ các ký tự alphabet, tôi cũng làm tốt. Cùng lúc đó, các bác sĩ trị liệu về ngôn ngữ và thể chất cùng cô Clanton cũng đã được mời đến phòng trị liệu chức năng và lặng lẽ chia sẻ vinh quang với tôi.
Mọi người tập trung trong căn phòng cũ kỹ không có cửa sổ - kể cả bản thân tôi - nghĩ rằng khả năng giao tiếp của tôi tới đó là hết mức. Nhưng chúng tôi đã lầm. Năm tháng trôi qua khả năng giao tiếp của tôi phong phú hơn và phát triển nhờ đang sống trong kỷ nguyên vi tính.
So với việc chinh phục ngọn Everest hay vượt đại dương bằng bè gỗ thì cuộc hành trình của tôi thật nhỏ nhoi nhưng đối với tôi, đó là cả một kỳ tích. Nhờ đó, Thượng đế có thể giúp tôi chinh phục những ngọn núi cao hơn và vượt qua được đại dương rộng lớn. Vì giờ đây, Người đã giúp tôi phá vỡ biên giới câm lặng đã giam giữ tôi suốt 11 năm trời.
- William L. Rush
Không gì ngăn được người có thái độ đúng đắn đạt được mục đích của mình; và không gì có thể giúp kẻ có thái độ sai lệch đạt được điều đó.
- Thomas Jefferson Cập nhật : 25/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
------------- Tzippie -------------
Vào một ngày hè oi ả, đôi vợ chồng trẻ cùng cô con gái bốn tuổi, Tzippie, đang trên đường đi nghỉ mát trên núi trong vài tuần. Đột nhiên, một chiếc xe tải lớn đang chạy trên con đường hẹp bỗng đâm thẳng vào chiếc xe hơi của gia đình họ. Đôi vợ chồng bị thương nặng, còn cô con gái nhỏ Tzippie thì bị gãy xương ở nhiều nơi.
Tất cả lập tức được chuyển đến bệnh viện gần đó. Tzippie nằm ở khu điều trị dành cho trẻ em và cha mẹ cô bé được đưa sang khu vực chăm sóc đặc biệt. Có thể hình dung được rằng Tzippie chẳng những hết sức đau đớn mà còn rất khiếp sợ khi chẳng thấy cha mẹ ở bên cạnh mình để an ủi vỗ về.
Martha, cô y tá được phân công chăm sóc Tzippie, là một phụ nữ đứng tuổi, độc thân. Hiểu nỗi sợ hãi và cảm giác bất an của Tzippie, nên cô dành hết tình cảm cho bé. Khi Martha kết thúc ca trực của mình, thay vì về nhà, cô tình nguyện ở lại chăm sóc Tzippie vào ban đêm. Dĩ nhiên, Tzippie ngày càng cảm mến cô và cậy nhờ cô mọi thứ cần thiết. Martha còn mang bánh, tranh ảnh và đồ chơi cho Tzippie, hát và kể vô số chuyện cho cô bé nghe.
Khi Tzippie có thể di chuyển được, Martha đặt cô bé lên một chiếc xe lăn và đưa cô đến thăm bố mẹ mỗi ngày.
Sau nhiều tháng điều trị, gia đình Tzippie được xuất viện. Trước khi họ rời khỏi bệnh viện, cha mẹ cô bé hết lời cảm ơn Martha vì đã dành sự chăm sóc tận tình và đầy yêu thương cho Tzippie và mời cô đến thăm gia đình họ. Còn Tzippie, cô bé không muốn xa rời Martha chút nào, cứ nằng nặc đòi cô đến sống cùng với mình. Tất nhiên, dù Martha không muốn xa Tzippie bé nhỏ, và ngôi nhà của cô là khu nhi trong bệnh viện, nên cô cũng không thể nào nghĩ đến việc từ bỏ cuộc sống của mình được. Cuộc chia tay giữa Tzippie và cô y tá đáng mến đã diễn ra thật ngậm ngùi, xúc động. Gia đình Tzippie giữ liên lạc với cô y tá Martha qua điện thoại được vài tháng vì họ sống khá xa cô. Nhưng khi họ chuyển ra nước ngoài sinh sống, hai bên mất liên lạc với nhau từ đó.
Hơn 30 năm đã trôi qua. Một mùa đông nọ, Martha, giờ đã bước vào tuổi 70, bị mắc chứng viêm phổi nặng và được điều trị trong khu vực dành cho người lớn tuổi ở một bệnh viện gần nhà. Cô y tá trực nhận thấy bà Martha rất hiếm khi có người đến thăm. Cô y tá ấy luôn cố gắng hết mình dành cho người phụ nữ lớn tuổi ấy sự quan tâm chăm sóc đặc biệt, và cô nhận ra rằng bà ấy rất tinh tế và khéo léo.
Một đêm nọ, khi cô y tá ngồi bên vị bệnh nhân lớn tuổi ấy thì thầm trò chuyện, cô gái đã tâm sự với bà nguyên nhân khiến mình quyết tâm trở thành một nữ y tá. Cô kể rằng năm cô bốn tuổi, cô và cha mẹ của mình bị một tai nạn xe hơi. Lúc ấy có một cô y tá tốt bụng đã giúp cô hồi phục bằng sự tận tâm, tình yêu thương của cô ấy. Khi lớn lên, cô đã quyết tâm một ngày nào đó mình cũng sẽ trở thành một nữ y tá để có thể giúp đỡ và chăm sóc các bệnh nhân, từ trẻ em cho đến người lớn tuổi, hệt như cách mà cô y tá năm xưa đã chăm sóc mình vậy.
Sau khi tốt nghiệp một trường đào tạo y tá ở nước ngoài, cô đã gặp và yêu một chàng trai người Mỹ. Sau ngày cưới, cả hai chuyển về nước sinh sống. Vài tháng trước họ đã chuyển đến sinh sống ở thành phố này, nơi chồng cô đã tìm được một việc làm rất tốt và cô cũng may mắn xin được làm y tá tại bệnh viện này. Khi câu chuyện còn chưa kết thúc, những giọt nước mắt đã vội lăn dài trên khuôn mặt vị bệnh nhân già bởi bà chắc chắn rằng cô y tá đang ngồi cạnh mình là Tzippie bé nhỏ ngày xưa, người mà bà đã trực tiếp chăm sóc sau tai nạn khủng khiếp đó.
Khi cô y tá trẻ vừa kết thúc câu chuyện, Martha khẽ nói: “Tzippie, chúng ta lại gặp nhau; nhưng lần này con chăm sóc cho cô!”. Cô y tá tròn mắt sửng sốt nhìn Martha, chợt nhận ra bà “Là cô đấy ư?”, cô gái bật khóc. “Đã bao lần con nghĩ về cô và mong một ngày nào đó chúng ta gặp lại nhau!”
Khi Martha bình phục, Tzippie lần này không cầu xin bà đến sống cùng gia đình mình nữa - mà đã thu dọn đồ đạc của Martha và đưa bà về nhà mình. Bà Martha sống với gia đình Tzippie từ đấy. Chồng và các con của Tzippie cũng chào đón bà như bà ngoại thứ hai của gia đình.
- Ruchoma Sham Cập nhật : 21/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
----------------------------- Vượt qua bức tường câm lặng ------------------------------------------
Cuộc phiêu lưu của tôi bắt đầu vào tháng 10 năm 1966 khi cô Neff - bác sĩ trị liệu của tôi - dẫn tôi vào căn phòng cũ kỹ không cửa sổ của cô ấy. Đó là một phụ nữ 30 tuổi, cao khoảng 1,5 mét, nhưng có khả năng khiến những học viên khuyết tật được coi là “bất hợp tác” tại trường Dr. J. P. Lord phải run sợ. Là một trong số đó, tôi sợ đến chết được mỗi khi cô đến gặp tôi mà chẳng hề báo trước.
Tôi vốn được gán cho biệt danh là “thằng nhóc đáng ghét” bởi tôi thường không thực hiện đúng yêu cầu của bác sĩ trị liệu. Tôi còn có vẻ như rất bất trị chỉ vì tôi hoàn toàn không hợp tác với các bác sĩ của mình, kết quả là sau nhiều năm áp dụng các phương pháp trị liệu, tôi vẫn chưa thể đi lại, nói chuyện hay cử động tay chân.
Đôi lúc tôi tự hỏi, tại sao mình phải nỗ lực nhỉ? Cô Neff đã từng nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi luôn cố gắng làm tất cả những gì có thể, tất cả những gì chúng tôi đã áp dụng với những trường hợp tương tự, và nếu vẫn không có kết quả, chúng tôi sẽ tìm kiếm một phương án mới”. Nhưng tất cả các phương pháp, từ cổ truyền đến tân tiến đều chẳng ăn thua gì với tôi.
Hôm ấy, dù không phải giờ trị liệu của mình, tôi vẫn bị đẩy vô văn phòng của cô Neff. Tôi sợ chết điếng và không khỏi hoang mang. Mình lại làm gì sai đây? Họ đã bó tay với chứng bệnh của mình rồi chăng? Hay là mình sắp bị đuổi khỏi trường? Tôi cảm thấy vô cùng ngột ngạt.
Cô Neff đặt tôi ngồi trước bàn cô, còn cô ngồi phía sau bàn, trên một chiếc ghế không tay vịn. Thay vì la mắng tôi như tôi vẫn tiên đoán, cô cho tôi xem vài tấm hình được sao bằng máy rônêô, trên đó là hình của một vật gì đó từa tựa như cái súng cao su dáng lớn nhưng có vẻ kém sắc sảo bị bào tròn ở phần được phân nhánh. Tôi thấy nó thật là lố bịch. Rồi cô cho tôi xem hình một đứa nhóc đang đánh máy với dụng cụ kỳ cục đó được gắn trên đầu.
Thì ra trong thời gian hội nghị giáo viên diễn ra năm đó, cô Neff cùng với một nhà trị liệu về ngôn từ, nhà trị liệu về thể chất và cô Clanton - giáo viên mới của lớp tôi - đã tham dự thêm một cuộc họp nữa tại một ngôi trường đặc biệt khác ở thành phố Iowa. Tại đây, họ đã thấy một sinh viên dùng dụng cụ này để ghi chép bài học.
“Đây là công cụ trị liệu ngôn từ”, cô Neff nghiêm nghị nói, “chứ không phải là đồ chơi hay vũ khí. Chúng tôi nghĩ em có thể sử dụng nó nếu em muốn nhưng sẽ rất khó khăn đấy. Nếu tôi thấy em dùng nó để đâm thọc ai đó thì tôi sẽ tịch thu ngay, hiểu không?”.
Tôi khó nhọc gật đầu.
Cô nói tiếp: “Tại cuộc họp phụ huynh sắp tới, tôi sẽ hướng dẫn để mẹ em về nhà tập thêm cho em những bài tập luyện cơ cổ. Tôi khuyên em nên tập ở nhà vào mỗi sáng vì lúc đó em còn thấy khỏe. Sẽ mệt đấy, nhưng em có thể làm được”.
Sau khi cô Neff thuyết giáo với tôi xong là đến lượt cô Clanton. Khác với những bác sĩ trị liệu khác, vị bác sĩ này chưa từng chứng kiến nhiều thất bại của tôi nên cô chỉ nói một câu đơn giản: “Tôi nghĩ em làm được mà, phải không?”.
Tôi khẽ gật đầu. Thế là cuộc hành trình thoát khỏi sự biệt giam của tôi bắt đầu. Mỗi sáng tôi đều thực hiện những bài tập cơ cổ trước khi đến trường. Sau khi gia đình một người bạn làm giúp tôi một cái máy trị liệu, tôi đã sử dụng dụng cụ đó để lật những trang sách đóng gáy lò xo, để chỉ vào hàng chữ trên tấm bảng ngôn ngữ rất phức tạp do bác sĩ trị liệu ngôn từ đưa ra, và dĩ nhiên để tập cả những bài tập cổ “ngộ nghĩnh”. Thật không thể mô tả cảm giác ngây ngất trước những thành công đầu tiên trong đời mình. Cứ như một giấc mơ vậy! Trước khi có dụng cụ trị liệu ấy, mọi biện pháp các bác sĩ thử cho tôi đều không hiệu quả vì tôi không hợp tác, nên đã phải bỏ cuộc vì tuyệt vọng. Nhưng giờ đây mọi sự đã khác!
Tôi hoàn toàn tin vào cô ấy. Nếu cô bảo rằng tôi có thể bay, thì tôi cũng chẳng ngần ngại gì mà không nhảy ra khỏi tòa nhà Empire State, đập mạnh đôi tay khẳng khiu của mình cho đến khi nào rơi xuống vệ đường mới thôi. Cô ấy vừa là bạn mà cũng là một người thầy. Tôi còn nhớ cô đã cùng chơi bóng chày với lớp tôi như thế nào để “đền bù” lại một giờ nghỉ giải lao buồn tẻ mà chúng tôi đã phải ngồi trong im lặng để xem một vở kịch câm. Vì vậy tôi cố gắng hết sức để làm vui lòng cô, không để tâm lắm đến thất bại trong phương án điều trị mới này.
Giáo viên và các bác sĩ trị liệu của tôi cho rằng tôi rất thông minh bởi vì họ đã quan sát đôi mắt tôi, để ý những biểu hiện trên gương mặt tôi mỗi khi tôi chăm chú nghe giảng. Nhưng cô Clanton lại nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi không có cách nào để kiểm tra kiến thức mỗi môn học của cậu bé cả”.
Đỉnh cao của cuộc phiêu lưu này là khi cô Neff đặt tôi vào chiếc ghế tựa có tay vịn. Cô ấy phải buộc chặt tôi vì tôi không thể tự giữ thăng bằng. Rồi cô ấy dùng một miếng vải để cột một cây bút trên đầu tôi, sau đó cô đẩy tôi đến chỗ đặt một chiếc máy đánh chữ màu đen cổ lỗ sĩ. Tôi cược là cái máy ấy từng được Thomas Edison sử dụng.
Cô Neff bảo tôi mở cái máy cũ kỹ đó ra. Thật ngạc nhiên, tôi làm được một cách nhanh chóng! Cô bảo tôi đánh máy tên mình. Tôi cũng làm được. Cô bảo tôi gõ các ký tự alphabet, tôi cũng làm tốt. Cùng lúc đó, các bác sĩ trị liệu về ngôn ngữ và thể chất cùng cô Clanton cũng đã được mời đến phòng trị liệu chức năng và lặng lẽ chia sẻ vinh quang với tôi.
Mọi người tập trung trong căn phòng cũ kỹ không có cửa sổ - kể cả bản thân tôi - nghĩ rằng khả năng giao tiếp của tôi tới đó là hết mức. Nhưng chúng tôi đã lầm. Năm tháng trôi qua khả năng giao tiếp của tôi phong phú hơn và phát triển nhờ đang sống trong kỷ nguyên vi tính.
So với việc chinh phục ngọn Everest hay vượt đại dương bằng bè gỗ thì cuộc hành trình của tôi thật nhỏ nhoi nhưng đối với tôi, đó là cả một kỳ tích. Nhờ đó, Thượng đế có thể giúp tôi chinh phục những ngọn núi cao hơn và vượt qua được đại dương rộng lớn. Vì giờ đây, Người đã giúp tôi phá vỡ biên giới câm lặng đã giam giữ tôi suốt 11 năm trời.
- William L. Rush Cập nhật : 19/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
---------- Hani ---------- Ngày tôi gặp Hani Irmawati, cô bé mới mười bảy tuổi, nhút nhát đứng một mình trong bãi đậu xe của một trường quốc tế ở Indonesia, nơi tôi đang dạy tiếng Anh. Học phí của trường rất cao và trường không nhận học sinh người Indonesia. Cô bé tiến lại phía tôi và khẩn khoản nhờ tôi dạy tiếng Anh. Tôi nhận ra rằng một cô gái người Indonesia còn trẻ lại ăn mặc xoàng xĩnh như vậy chắc phải can đảm lắm mới dám đến nhờ giúp đỡ một việc như thế.
"Sao em lại muốn học tiếng Anh?". Tôi hỏi và cứ nghĩ rằng cô bé sẽ trả lời là để xin việc ở một khách sạn địa phương nào đấy.
Cô bé trả lời với một sự tự tin ẩn giấu: "Em muốn đi học đại học ở Mỹ". Giấc mơ cao vời của em làm tôi muốn rơi nước mắt.
Tôi tự nguyện dạy thêm cho em mỗi ngày sau giờ dạy ở trường. Suốt mấy tháng sau đó, mỗi ngày Hani đều thức dậy lúc năm giờ sáng để đón xe buýt đến trường. Trong một tiếng ngồi trên xe, em học bài ở trường rồi chuẩn bị bài tiếng Anh mà tôi đã giao cho ngày hôm trước. Vào bốn giờ chiều em đến học với tôi, người đã mệt lả nhưng vẫn sẵn sàng học tiếp. Cứ như thế, khi Hani nỗ lực với môn tiếng Anh trình độ đại học thì tôi cũng thấy quý mến cô bé hơn. Cô gái ấy học siêng năng hơn phần lớn học sinh giàu có người nước ngoài mà tôi từng biết.
Hani sống trong một căn nhà chỉ có hai phòng cùng với bố mẹ và hai em trai. Bố làm bảo vệ cho một tòa cao ốc, và mẹ thì làm nghề giúp việc. Khi đến gặp họ tại nơi ở thì tôi biết rằng thu nhập hằng năm của hai vợ chồng gộp lại chỉ có 750 đô-la, một số tiền không đủ chi phí cho một tháng học đại học tại Mỹ. Dù khả năng tiếng Anh của Hani ngày càng tăng, nhiệt tình của cô bé ngày càng lớn, nhưng tôi lại dần cảm thấy nản chí.
Một buổi sáng tháng 12 năm 1998, tôi nhận được thông báo về một suất học bổng của một đại học lớn của Mỹ. Tôi nôn nóng mở phong bì tìm hiểu những điều kiện bên trong và rồi thất vọng vứt ngay mẫu đơn đó. Tôi nghĩ Hani không cách nào đáp ứng được những tiêu chuẩn này. Cô bé chưa từng dẫn dắt một câu lạc bộ hay một tổ chức nào, đơn giản là ở trường cô học không hề có câu lạc bộ hay tổ chức nào cả. Cô bé cũng chẳng có người hướng dẫn hay điểm trắc nghiệm chuẩn gây ấn tượng, đơn giản là chẳng hề có một loại trắc nghiệm nào như thế cả.
Tuy nhiên, cô bé lại có một sự quyết tâm hơn bất cứ học sinh nào tôi từng biết. Và hôm đó, khi Hani đến lớp học, tôi nói cho cô bé biết về suất học bổng đó. Tôi cũng nói luôn rằng tôi nghĩ cô bé không cách nào đáp ứng những điều kiện đó được. Tôi khuyên em, và đúng như từ tôi đã dùng, là phải "thực tế" về tương lai và đừng quá mơ tưởng đến nước Mỹ. Ngay cả khi tôi tỏ ra bi quan đến thế nhưng Hani vẫn không chút sờn lòng.
Cô bé hỏi: "Thầy sẽ đăng ký tên em chứ?". Tôi không nỡ làm cô bé thất vọng. Khi điền vào tờ ghi danh, tôi buộc phải ghi sự thật về học lực của cô bé, nhưng có kèm theo lời khen ngợi về lòng can đảm và tính kiên trì của Hani. Tôi dán phong bì lại và bảo với Hani rằng khả năng cô bé được chấp nhận hoặc là rất mong manh hoặc là sẽ không được gì cả.
Trong những tuần lễ tiếp theo, Hani nỗ lực học tiếng Anh nhiều hơn nữa, và tôi đã sắp xếp để cô bé dự kì thi khả năng lưu loát Anh ngữ tại Jakarta. Toàn bộ bài thi được lập trình sẵn trên máy tính quả là một thách thức lớn với những ai chưa hề chạm đến máy vi tính bao giờ. Suốt hai tuần liền, chúng tôi làm quen với những bộ phận của máy vi tính và cách chúng vận hành. Sau đó, ngay trước khi Hani đến Jakarta, cô bé nhận được tin của tổ chức cấp học bổng. Tôi nghĩ thầm, tin từ chối đến vào lúc này thật quá tàn nhẫn. Để chuẩn bị cho cô bé đối phó với cảm giác thất vọng, tôi mở thư và đọc cho em nghe. Thật không thể tin được! Hani đã được chấp nhận.
Tôi mừng rỡ nhãy cẫng khắp phòng. Hani đứng gần đó, khẽ mỉm cười, nhưng chắc là em rất ngỡ ngàng vì sự ngạc nhiên của tôi. Suốt một tuần lễ sau đó, hình ảnh khuôn mặt của em vào khoảnh khắc ấy cứ hiện mãi trong tôi. Cuối cùng tôi nhận ra rằng chính tôi là người đã học được ở Hani điều mà cô bé đã biết ngay từ lúc đầu: Thành công không chỉ nhờ vào trí thông minh mà còn nhờ vào sự tận tụy để làm việc chăm chỉ và lòng dũng cảm để tin vào chính mình.
Jamie Winship Cập nhật : 16/06/07 ------------------------------------------------------------
(TẤT CẢ CÁC BÀI ĐƯỢC CẬP NHẬT NHỮNG NGÀY TRƯỚC, ĐỰƠC CHÚNG TÔI CHUYỂN VÀO MỤC " Recycle Bin ")
Cty TNHH Tín An (Khuôn mẫu ngành nhựa, cơ khí cx, sp nhựa) ĐT : 84-8-2655371; Fax : 84-8-2659125 Email : vantancnc@yahoo.com http://www.tinan.com.vn http://www.tinan.com.vn http://www.tinan.com.vn )
------------------------------- Mong muốn giản đơn nhất ------------------------------------
Mỗi ngày ít nhất một lần, con mèo đen già nua của chúng tôi lại mon men đến gần với bộ dạng như đang cần một nhu cầu đặc biệt nào đó. Nó không có vẻ đòi ăn hay muốn được thả ra ngoài mà dường như nó cần một điều gì đó khác hẳn.
Nếu bạn cho nằm lên đùi, nó sẽ nhảy phốc lên. Mỗi lần như vậy, nó bắt đầu rùng mình khi bạn gãi lưng, xoa cằm cho nó và liên tục vỗ về rằng nó là một con mèo con dễ thương vô cùng.
Con gái tôi giải thích thật đơn giản rằng: "Blackie muốn được âu yếm và chăm sóc".
Blackie không phải là thành viên duy nhất có nhu cầu đó: cả tôi và vợ tôi cũng cần. Tôi chợt nghĩ đến bọn trẻ nhiều nhất, đến nhu cầu được nhận một vòng tay yêu thương, một chỗ ngồi ấm áp trong lòng, một cái nắm tay - những cử chỉ mà đôi khi chỉ cần dành một chút thời gian.
Nếu tôi chỉ có thể làm duy nhất một điều, thì điều mà tôi chọn sẽ là đảm bảo cho mọi trẻ em, ở bất cứ nơi đâu, cũng được âu yếm yêu thương mỗi ngày. Trẻ con, cũng như những chú mèo, rất cần được yêu thương.
- Fred T. Wilhelms Cập nhật : 09/07/07 ------------------------------ ... ------------------------------
------------------------------------ Một hành động của lòng nhân ái -------------------------------------------
Trong suốt thời gian xảy ra nội chiến, Tổng thống Abraham Lincoln vẫn thường đến các bệnh viện để thăm hỏi và trò chuyện với những thương binh đang điều trị ở đó. Một lần, các bác sĩ dẫn Lincoln đến bên giường một người lính trẻ đang gần kề cái chết.
"Tôi có thể làm cho anh được điều gì ngay bây giờ không?" Tổng thống hỏi.
Người lính trẻ rõ ràng không nhận ra Lincoln. Anh cố thều thào: "Xin ông hãy giúp tôi viết một lá thư cho mẹ!"
Bút và giấy được mang tới, và vị Tổng thống bắt đầu nắn nót viết từng chữ mà người lính trẻ có thể đọc được bằng hơi sức yếu ớt còn lại của mình:
"Mẹ yêu quý! Con bị thương rất nặng trong khi đang thi hành nhiệm vụ. Con e rằng con không thể qua khỏi được. Nhưng mẹ ơi, mẹ đừng quá đau buồn vì con nhé. Xin hãy hôn em Mary và John giúp con. Xin ơn trên phù hộ cho bố mẹ."
Người lính đã quá yếu sức và không thể tiếp tục được nữa, nên vị Tổng thống ký tên giùm anh vào cuối bức thư và thêm vào dòng chữ: "Viết thay cho con trai bà - Abraham Lincoln."
Người lính trẻ nhìn vào bức thư, và anh thật sự ngạc nhiên khi đọc thấy tên người đã giúp anh thực hiện nguyện vọng cuối cùng của mình.
"Ngài chính là Tổng thống ư?" anh hỏi.
"Vâng, tôi đây!" Lincoln trả lời một cách bình thản, và lại tiếp tục hỏi rằng ông có thể làm thêm được gì cho anh.
"Xin ngài hãy nắm lấy tay tôi!" anh nói. "Điều đó sẽ giúp tôi rất nhiều khi phải đối mặt với cái chết!"
Và trong căn phòng tĩnh lặng, vị Tổng thống cao gầy nắm chặt tay anh lính trẻ trong bàn tay mình, nhẹ nhàng nói những lời an ủi, động viên cho đến khi anh ra đi trong thanh thản.
- The Best of Bits & Pieces An act of kindness Cập nhật : 05/07/07 ------------------------------ ... ------------------------------
------------------------ Bài hát từ trái tim -----------------------
Có một người đàn ông tốt bụng cưới được người phụ nữ như ông hằng mơ ước. Tình yêu của họ đơm hoa kết trái và họ sinh hạ được một cô con gái rất xinh xắn, dễ thương.
Khi cô gái đã lớn, người cha vẫn thường ôm cô vào lòng và nói: "Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố". Cô con gái giận dỗi: "Kìa bố, con không còn là một đứa bé nữa". Nhưng người cha luôn cười xòa và đáp: "Đối với bố, con luôn là con gái bé bỏng của bố".
Một ngày kia, cô-con-gái-không-còn-bé-bỏng ấy quyết định rời khỏi ngôi nhà thân yêu của mình để khám phá thế giới xung quanh. Khi cô gái thật sự hiểu về bản thân mình thì cũng là lúc cô hiểu về cha mình hơn. Một trong những điểm mạnh của ông là ông luôn bày tỏ tình thương yêu với gia đình của mình. bất kể cô đang ở đâu, cha vẫn gọi cho cô và nói rằng: "Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố".
Một ngày nọ, cô gái nhận được một cú điện thoại không mong đợi: cha cô đã bị liệt sau một cơn đột quỵ. Ông không thể nói, không thể cười, không thể đi lại... và không thể nói được với cô rằng ông rất yêu cô.
Cô trở về bên cha. Khi bước vào phòng, cô thấy ông nằm đó, trông thật bé nhỏ và ốm yếu. Ông gắng gượng trò chuyện cùng cô nhưng không thể. điều duy nhất mà cô có thể làm là ngồi bên cạnh ông, vòng tay ôm lấy đôi vai bất động của cha mình. Tựa đầu lên ngực cha, cô suy ngẫm nhiều điều. Cô nhớ lại rằng mình luôn cảm thấy được cha che chở, nâng niu từ tấm bé. Cô thấy lòng quặn thắt trước nỗi đau sắp mất đi người cha yêu quý. Không còn nữa rồi những lời yêu thương vỗ về của cha.
Và bỗng nhiên, cô nghe tiếng nhịp đập trái tim người cha. Trái tim ông vẫn đập đều đều, mạnh mẽ, như muốn vượt lên tất cả những phần cơ thể đau yếu còn lại. Và trong giây phút được bình yên trên ngực cha như thế, điều kỳ diệu đã xảy ra: Cô đã nghe được những lời yêu thương mà cô muốn nghe!
Trái tim của người cha phát ra những lời mà miệng ông không còn nói được nữa: "Bố yêu con, con gái bé bỏng của bố... Bố yêu con..." và cô đã được vỗ về, an ủi bởi những lời nói yêu thương vô hình ấy của cha.
- Patty Hansen Cập nhật : 04/07/07 ------------------------------ ... ------------------------------
----------------------- Tình yêu đích thực ------------------------
Moses Mendelssohn, ông nội của nhà soạn nhạc nổi tiếng người Đức, là một người có vẻ ngoài rất xấu xí. Ngoài vóc người thấp bé, ông còn bị gù lưng nữa.
Một ngày kia, ông tới thăm một thương gia ở Hamburg, người này có cô con gái rất dễ thương tên là Frumtje. Ngay khi gặp Frumtje, Moses đã yêu cô say đắm nhưng tuyệt vọng bởi cô tỏ ra sợ sệt vẻ ngoài xấu xí của ông.
Đến lúc phải ra về, Moses thu hết can đảm đi lên cầu thang vào phòng cô gái, hy vọng có một cơ hội cuối cùng được nói chuyện với cô. Đối với ông, cô là hiện thân cho vẻ đẹp thiên thần, nhưng cô đã làm ông thật buồn khi luôn tránh nhìn ông. Sau những cố gắng để có được một vài câu xã giao, Moses bối rối hỏi cô, “Cô có tin hôn nhân là việc đã được định đoạt bởi kiếp trước trên thiên đường không?”
“Tôi tin”, cô gái trả lời trong khi mắt vẫn nhìn xuống sàn nhà. “Và ông cũng tin chứ?”
“Có, tôi tin như vậy”, ông trả lời. “Cô biết đấy, ở trên thiên đường mỗi khi một cậu bé được sinh ra, Chúa trời cho cậu ấy biết về cô gái mà cậu sẽ cưới làm vợ. Khi tôi sinh ra, cô dâu tương lai của tôi cũng đã được chỉ định. Chúa còn nói thêm rằng vợ tôi sẽ bị gù. Ngay lúc đó, tôi kêu lên: ‘Ôi Chúa, một người phụ nữ gù hẳn sẽ là một thảm kịch. Thưa Ngài, xin Ngài hãy ban cho con cái bướu đó để người vợ của con được xinh đẹp’".
Frumtje ngước lên nhìn vào mắt ông và trong phút chốc, tâm tưởng cô có một sự xáo trộn mãnh liệt. Cô vươn người tới đưa tay cho Mendelssohn nắm lấy và sau đó đã trở thành người vợ tận tụy của ông.
- Barry và Joyce Vissell Cập nhật : 30/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
----------------------------- Vượt qua bức tường câm lặng --------------------------------------
Cuộc phiêu lưu của tôi bắt đầu vào tháng 10 năm 1966 khi cô Neff - bác sĩ trị liệu của tôi - dẫn tôi vào căn phòng cũ kỹ không cửa sổ của cô ấy. Đó là một phụ nữ 30 tuổi, cao khoảng 1,5 mét, nhưng có khả năng khiến những học viên khuyết tật được coi là “bất hợp tác” tại trường Dr. J. P. Lord phải run sợ. Là một trong số đó, tôi sợ đến chết được mỗi khi cô đến gặp tôi mà chẳng hề báo trước.
Tôi vốn được gán cho biệt danh là “thằng nhóc đáng ghét” bởi tôi thường không thực hiện đúng yêu cầu của bác sĩ trị liệu. Tôi còn có vẻ như rất bất trị chỉ vì tôi hoàn toàn không hợp tác với các bác sĩ của mình, kết quả là sau nhiều năm áp dụng các phương pháp trị liệu, tôi vẫn chưa thể đi lại, nói chuyện hay cử động tay chân.
Đôi lúc tôi tự hỏi, tại sao mình phải nỗ lực nhỉ? Cô Neff đã từng nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi luôn cố gắng làm tất cả những gì có thể, tất cả những gì chúng tôi đã áp dụng với những trường hợp tương tự, và nếu vẫn không có kết quả, chúng tôi sẽ tìm kiếm một phương án mới”. Nhưng tất cả các phương pháp, từ cổ truyền đến tân tiến đều chẳng ăn thua gì với tôi.
Hôm ấy, dù không phải giờ trị liệu của mình, tôi vẫn bị đẩy vô văn phòng của cô Neff. Tôi sợ chết điếng và không khỏi hoang mang. Mình lại làm gì sai đây? Họ đã bó tay với chứng bệnh của mình rồi chăng? Hay là mình sắp bị đuổi khỏi trường? Tôi cảm thấy vô cùng ngột ngạt.
Cô Neff đặt tôi ngồi trước bàn cô, còn cô ngồi phía sau bàn, trên một chiếc ghế không tay vịn. Thay vì la mắng tôi như tôi vẫn tiên đoán, cô cho tôi xem vài tấm hình được sao bằng máy rônêô, trên đó là hình của một vật gì đó từa tựa như cái súng cao su dáng lớn nhưng có vẻ kém sắc sảo bị bào tròn ở phần được phân nhánh. Tôi thấy nó thật là lố bịch. Rồi cô cho tôi xem hình một đứa nhóc đang đánh máy với dụng cụ kỳ cục đó được gắn trên đầu.
Thì ra trong thời gian hội nghị giáo viên diễn ra năm đó, cô Neff cùng với một nhà trị liệu về ngôn từ, nhà trị liệu về thể chất và cô Clanton - giáo viên mới của lớp tôi - đã tham dự thêm một cuộc họp nữa tại một ngôi trường đặc biệt khác ở thành phố Iowa. Tại đây, họ đã thấy một sinh viên dùng dụng cụ này để ghi chép bài học.
“Đây là công cụ trị liệu ngôn từ”, cô Neff nghiêm nghị nói, “chứ không phải là đồ chơi hay vũ khí. Chúng tôi nghĩ em có thể sử dụng nó nếu em muốn nhưng sẽ rất khó khăn đấy. Nếu tôi thấy em dùng nó để đâm thọc ai đó thì tôi sẽ tịch thu ngay, hiểu không?”.
Tôi khó nhọc gật đầu.
Cô nói tiếp: “Tại cuộc họp phụ huynh sắp tới, tôi sẽ hướng dẫn để mẹ em về nhà tập thêm cho em những bài tập luyện cơ cổ. Tôi khuyên em nên tập ở nhà vào mỗi sáng vì lúc đó em còn thấy khỏe. Sẽ mệt đấy, nhưng em có thể làm được”.
Sau khi cô Neff thuyết giáo với tôi xong là đến lượt cô Clanton. Khác với những bác sĩ trị liệu khác, vị bác sĩ này chưa từng chứng kiến nhiều thất bại của tôi nên cô chỉ nói một câu đơn giản: “Tôi nghĩ em làm được mà, phải không?”.
Tôi khẽ gật đầu. Thế là cuộc hành trình thoát khỏi sự biệt giam của tôi bắt đầu. Mỗi sáng tôi đều thực hiện những bài tập cơ cổ trước khi đến trường. Sau khi gia đình một người bạn làm giúp tôi một cái máy trị liệu, tôi đã sử dụng dụng cụ đó để lật những trang sách đóng gáy lò xo, để chỉ vào hàng chữ trên tấm bảng ngôn ngữ rất phức tạp do bác sĩ trị liệu ngôn từ đưa ra, và dĩ nhiên để tập cả những bài tập cổ “ngộ nghĩnh”. Thật không thể mô tả cảm giác ngây ngất trước những thành công đầu tiên trong đời mình. Cứ như một giấc mơ vậy! Trước khi có dụng cụ trị liệu ấy, mọi biện pháp các bác sĩ thử cho tôi đều không hiệu quả vì tôi không hợp tác, nên đã phải bỏ cuộc vì tuyệt vọng. Nhưng giờ đây mọi sự đã khác!
Tôi hoàn toàn tin vào cô ấy. Nếu cô bảo rằng tôi có thể bay, thì tôi cũng chẳng ngần ngại gì mà không nhảy ra khỏi tòa nhà Empire State, đập mạnh đôi tay khẳng khiu của mình cho đến khi nào rơi xuống vệ đường mới thôi. Cô ấy vừa là bạn mà cũng là một người thầy. Tôi còn nhớ cô đã cùng chơi bóng chày với lớp tôi như thế nào để “đền bù” lại một giờ nghỉ giải lao buồn tẻ mà chúng tôi đã phải ngồi trong im lặng để xem một vở kịch câm. Vì vậy tôi cố gắng hết sức để làm vui lòng cô, không để tâm lắm đến thất bại trong phương án điều trị mới này.
Giáo viên và các bác sĩ trị liệu của tôi cho rằng tôi rất thông minh bởi vì họ đã quan sát đôi mắt tôi, để ý những biểu hiện trên gương mặt tôi mỗi khi tôi chăm chú nghe giảng. Nhưng cô Clanton lại nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi không có cách nào để kiểm tra kiến thức mỗi môn học của cậu bé cả”.
Đỉnh cao của cuộc phiêu lưu này là khi cô Neff đặt tôi vào chiếc ghế tựa có tay vịn. Cô ấy phải buộc chặt tôi vì tôi không thể tự giữ thăng bằng. Rồi cô ấy dùng một miếng vải để cột một cây bút trên đầu tôi, sau đó cô đẩy tôi đến chỗ đặt một chiếc máy đánh chữ màu đen cổ lỗ sĩ. Tôi cược là cái máy ấy từng được Thomas Edison sử dụng.
Cô Neff bảo tôi mở cái máy cũ kỹ đó ra. Thật ngạc nhiên, tôi làm được một cách nhanh chóng! Cô bảo tôi đánh máy tên mình. Tôi cũng làm được. Cô bảo tôi gõ các ký tự alphabet, tôi cũng làm tốt. Cùng lúc đó, các bác sĩ trị liệu về ngôn ngữ và thể chất cùng cô Clanton cũng đã được mời đến phòng trị liệu chức năng và lặng lẽ chia sẻ vinh quang với tôi.
Mọi người tập trung trong căn phòng cũ kỹ không có cửa sổ - kể cả bản thân tôi - nghĩ rằng khả năng giao tiếp của tôi tới đó là hết mức. Nhưng chúng tôi đã lầm. Năm tháng trôi qua khả năng giao tiếp của tôi phong phú hơn và phát triển nhờ đang sống trong kỷ nguyên vi tính.
So với việc chinh phục ngọn Everest hay vượt đại dương bằng bè gỗ thì cuộc hành trình của tôi thật nhỏ nhoi nhưng đối với tôi, đó là cả một kỳ tích. Nhờ đó, Thượng đế có thể giúp tôi chinh phục những ngọn núi cao hơn và vượt qua được đại dương rộng lớn. Vì giờ đây, Người đã giúp tôi phá vỡ biên giới câm lặng đã giam giữ tôi suốt 11 năm trời.
- William L. Rush
Không gì ngăn được người có thái độ đúng đắn đạt được mục đích của mình; và không gì có thể giúp kẻ có thái độ sai lệch đạt được điều đó.
- Thomas Jefferson Cập nhật : 25/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
------------- Tzippie -------------
Vào một ngày hè oi ả, đôi vợ chồng trẻ cùng cô con gái bốn tuổi, Tzippie, đang trên đường đi nghỉ mát trên núi trong vài tuần. Đột nhiên, một chiếc xe tải lớn đang chạy trên con đường hẹp bỗng đâm thẳng vào chiếc xe hơi của gia đình họ. Đôi vợ chồng bị thương nặng, còn cô con gái nhỏ Tzippie thì bị gãy xương ở nhiều nơi.
Tất cả lập tức được chuyển đến bệnh viện gần đó. Tzippie nằm ở khu điều trị dành cho trẻ em và cha mẹ cô bé được đưa sang khu vực chăm sóc đặc biệt. Có thể hình dung được rằng Tzippie chẳng những hết sức đau đớn mà còn rất khiếp sợ khi chẳng thấy cha mẹ ở bên cạnh mình để an ủi vỗ về.
Martha, cô y tá được phân công chăm sóc Tzippie, là một phụ nữ đứng tuổi, độc thân. Hiểu nỗi sợ hãi và cảm giác bất an của Tzippie, nên cô dành hết tình cảm cho bé. Khi Martha kết thúc ca trực của mình, thay vì về nhà, cô tình nguyện ở lại chăm sóc Tzippie vào ban đêm. Dĩ nhiên, Tzippie ngày càng cảm mến cô và cậy nhờ cô mọi thứ cần thiết. Martha còn mang bánh, tranh ảnh và đồ chơi cho Tzippie, hát và kể vô số chuyện cho cô bé nghe.
Khi Tzippie có thể di chuyển được, Martha đặt cô bé lên một chiếc xe lăn và đưa cô đến thăm bố mẹ mỗi ngày.
Sau nhiều tháng điều trị, gia đình Tzippie được xuất viện. Trước khi họ rời khỏi bệnh viện, cha mẹ cô bé hết lời cảm ơn Martha vì đã dành sự chăm sóc tận tình và đầy yêu thương cho Tzippie và mời cô đến thăm gia đình họ. Còn Tzippie, cô bé không muốn xa rời Martha chút nào, cứ nằng nặc đòi cô đến sống cùng với mình. Tất nhiên, dù Martha không muốn xa Tzippie bé nhỏ, và ngôi nhà của cô là khu nhi trong bệnh viện, nên cô cũng không thể nào nghĩ đến việc từ bỏ cuộc sống của mình được. Cuộc chia tay giữa Tzippie và cô y tá đáng mến đã diễn ra thật ngậm ngùi, xúc động. Gia đình Tzippie giữ liên lạc với cô y tá Martha qua điện thoại được vài tháng vì họ sống khá xa cô. Nhưng khi họ chuyển ra nước ngoài sinh sống, hai bên mất liên lạc với nhau từ đó.
Hơn 30 năm đã trôi qua. Một mùa đông nọ, Martha, giờ đã bước vào tuổi 70, bị mắc chứng viêm phổi nặng và được điều trị trong khu vực dành cho người lớn tuổi ở một bệnh viện gần nhà. Cô y tá trực nhận thấy bà Martha rất hiếm khi có người đến thăm. Cô y tá ấy luôn cố gắng hết mình dành cho người phụ nữ lớn tuổi ấy sự quan tâm chăm sóc đặc biệt, và cô nhận ra rằng bà ấy rất tinh tế và khéo léo.
Một đêm nọ, khi cô y tá ngồi bên vị bệnh nhân lớn tuổi ấy thì thầm trò chuyện, cô gái đã tâm sự với bà nguyên nhân khiến mình quyết tâm trở thành một nữ y tá. Cô kể rằng năm cô bốn tuổi, cô và cha mẹ của mình bị một tai nạn xe hơi. Lúc ấy có một cô y tá tốt bụng đã giúp cô hồi phục bằng sự tận tâm, tình yêu thương của cô ấy. Khi lớn lên, cô đã quyết tâm một ngày nào đó mình cũng sẽ trở thành một nữ y tá để có thể giúp đỡ và chăm sóc các bệnh nhân, từ trẻ em cho đến người lớn tuổi, hệt như cách mà cô y tá năm xưa đã chăm sóc mình vậy.
Sau khi tốt nghiệp một trường đào tạo y tá ở nước ngoài, cô đã gặp và yêu một chàng trai người Mỹ. Sau ngày cưới, cả hai chuyển về nước sinh sống. Vài tháng trước họ đã chuyển đến sinh sống ở thành phố này, nơi chồng cô đã tìm được một việc làm rất tốt và cô cũng may mắn xin được làm y tá tại bệnh viện này. Khi câu chuyện còn chưa kết thúc, những giọt nước mắt đã vội lăn dài trên khuôn mặt vị bệnh nhân già bởi bà chắc chắn rằng cô y tá đang ngồi cạnh mình là Tzippie bé nhỏ ngày xưa, người mà bà đã trực tiếp chăm sóc sau tai nạn khủng khiếp đó.
Khi cô y tá trẻ vừa kết thúc câu chuyện, Martha khẽ nói: “Tzippie, chúng ta lại gặp nhau; nhưng lần này con chăm sóc cho cô!”. Cô y tá tròn mắt sửng sốt nhìn Martha, chợt nhận ra bà “Là cô đấy ư?”, cô gái bật khóc. “Đã bao lần con nghĩ về cô và mong một ngày nào đó chúng ta gặp lại nhau!”
Khi Martha bình phục, Tzippie lần này không cầu xin bà đến sống cùng gia đình mình nữa - mà đã thu dọn đồ đạc của Martha và đưa bà về nhà mình. Bà Martha sống với gia đình Tzippie từ đấy. Chồng và các con của Tzippie cũng chào đón bà như bà ngoại thứ hai của gia đình.
- Ruchoma Sham Cập nhật : 21/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
----------------------------- Vượt qua bức tường câm lặng ------------------------------------------
Cuộc phiêu lưu của tôi bắt đầu vào tháng 10 năm 1966 khi cô Neff - bác sĩ trị liệu của tôi - dẫn tôi vào căn phòng cũ kỹ không cửa sổ của cô ấy. Đó là một phụ nữ 30 tuổi, cao khoảng 1,5 mét, nhưng có khả năng khiến những học viên khuyết tật được coi là “bất hợp tác” tại trường Dr. J. P. Lord phải run sợ. Là một trong số đó, tôi sợ đến chết được mỗi khi cô đến gặp tôi mà chẳng hề báo trước.
Tôi vốn được gán cho biệt danh là “thằng nhóc đáng ghét” bởi tôi thường không thực hiện đúng yêu cầu của bác sĩ trị liệu. Tôi còn có vẻ như rất bất trị chỉ vì tôi hoàn toàn không hợp tác với các bác sĩ của mình, kết quả là sau nhiều năm áp dụng các phương pháp trị liệu, tôi vẫn chưa thể đi lại, nói chuyện hay cử động tay chân.
Đôi lúc tôi tự hỏi, tại sao mình phải nỗ lực nhỉ? Cô Neff đã từng nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi luôn cố gắng làm tất cả những gì có thể, tất cả những gì chúng tôi đã áp dụng với những trường hợp tương tự, và nếu vẫn không có kết quả, chúng tôi sẽ tìm kiếm một phương án mới”. Nhưng tất cả các phương pháp, từ cổ truyền đến tân tiến đều chẳng ăn thua gì với tôi.
Hôm ấy, dù không phải giờ trị liệu của mình, tôi vẫn bị đẩy vô văn phòng của cô Neff. Tôi sợ chết điếng và không khỏi hoang mang. Mình lại làm gì sai đây? Họ đã bó tay với chứng bệnh của mình rồi chăng? Hay là mình sắp bị đuổi khỏi trường? Tôi cảm thấy vô cùng ngột ngạt.
Cô Neff đặt tôi ngồi trước bàn cô, còn cô ngồi phía sau bàn, trên một chiếc ghế không tay vịn. Thay vì la mắng tôi như tôi vẫn tiên đoán, cô cho tôi xem vài tấm hình được sao bằng máy rônêô, trên đó là hình của một vật gì đó từa tựa như cái súng cao su dáng lớn nhưng có vẻ kém sắc sảo bị bào tròn ở phần được phân nhánh. Tôi thấy nó thật là lố bịch. Rồi cô cho tôi xem hình một đứa nhóc đang đánh máy với dụng cụ kỳ cục đó được gắn trên đầu.
Thì ra trong thời gian hội nghị giáo viên diễn ra năm đó, cô Neff cùng với một nhà trị liệu về ngôn từ, nhà trị liệu về thể chất và cô Clanton - giáo viên mới của lớp tôi - đã tham dự thêm một cuộc họp nữa tại một ngôi trường đặc biệt khác ở thành phố Iowa. Tại đây, họ đã thấy một sinh viên dùng dụng cụ này để ghi chép bài học.
“Đây là công cụ trị liệu ngôn từ”, cô Neff nghiêm nghị nói, “chứ không phải là đồ chơi hay vũ khí. Chúng tôi nghĩ em có thể sử dụng nó nếu em muốn nhưng sẽ rất khó khăn đấy. Nếu tôi thấy em dùng nó để đâm thọc ai đó thì tôi sẽ tịch thu ngay, hiểu không?”.
Tôi khó nhọc gật đầu.
Cô nói tiếp: “Tại cuộc họp phụ huynh sắp tới, tôi sẽ hướng dẫn để mẹ em về nhà tập thêm cho em những bài tập luyện cơ cổ. Tôi khuyên em nên tập ở nhà vào mỗi sáng vì lúc đó em còn thấy khỏe. Sẽ mệt đấy, nhưng em có thể làm được”.
Sau khi cô Neff thuyết giáo với tôi xong là đến lượt cô Clanton. Khác với những bác sĩ trị liệu khác, vị bác sĩ này chưa từng chứng kiến nhiều thất bại của tôi nên cô chỉ nói một câu đơn giản: “Tôi nghĩ em làm được mà, phải không?”.
Tôi khẽ gật đầu. Thế là cuộc hành trình thoát khỏi sự biệt giam của tôi bắt đầu. Mỗi sáng tôi đều thực hiện những bài tập cơ cổ trước khi đến trường. Sau khi gia đình một người bạn làm giúp tôi một cái máy trị liệu, tôi đã sử dụng dụng cụ đó để lật những trang sách đóng gáy lò xo, để chỉ vào hàng chữ trên tấm bảng ngôn ngữ rất phức tạp do bác sĩ trị liệu ngôn từ đưa ra, và dĩ nhiên để tập cả những bài tập cổ “ngộ nghĩnh”. Thật không thể mô tả cảm giác ngây ngất trước những thành công đầu tiên trong đời mình. Cứ như một giấc mơ vậy! Trước khi có dụng cụ trị liệu ấy, mọi biện pháp các bác sĩ thử cho tôi đều không hiệu quả vì tôi không hợp tác, nên đã phải bỏ cuộc vì tuyệt vọng. Nhưng giờ đây mọi sự đã khác!
Tôi hoàn toàn tin vào cô ấy. Nếu cô bảo rằng tôi có thể bay, thì tôi cũng chẳng ngần ngại gì mà không nhảy ra khỏi tòa nhà Empire State, đập mạnh đôi tay khẳng khiu của mình cho đến khi nào rơi xuống vệ đường mới thôi. Cô ấy vừa là bạn mà cũng là một người thầy. Tôi còn nhớ cô đã cùng chơi bóng chày với lớp tôi như thế nào để “đền bù” lại một giờ nghỉ giải lao buồn tẻ mà chúng tôi đã phải ngồi trong im lặng để xem một vở kịch câm. Vì vậy tôi cố gắng hết sức để làm vui lòng cô, không để tâm lắm đến thất bại trong phương án điều trị mới này.
Giáo viên và các bác sĩ trị liệu của tôi cho rằng tôi rất thông minh bởi vì họ đã quan sát đôi mắt tôi, để ý những biểu hiện trên gương mặt tôi mỗi khi tôi chăm chú nghe giảng. Nhưng cô Clanton lại nói với cha mẹ tôi rằng: “Chúng tôi không có cách nào để kiểm tra kiến thức mỗi môn học của cậu bé cả”.
Đỉnh cao của cuộc phiêu lưu này là khi cô Neff đặt tôi vào chiếc ghế tựa có tay vịn. Cô ấy phải buộc chặt tôi vì tôi không thể tự giữ thăng bằng. Rồi cô ấy dùng một miếng vải để cột một cây bút trên đầu tôi, sau đó cô đẩy tôi đến chỗ đặt một chiếc máy đánh chữ màu đen cổ lỗ sĩ. Tôi cược là cái máy ấy từng được Thomas Edison sử dụng.
Cô Neff bảo tôi mở cái máy cũ kỹ đó ra. Thật ngạc nhiên, tôi làm được một cách nhanh chóng! Cô bảo tôi đánh máy tên mình. Tôi cũng làm được. Cô bảo tôi gõ các ký tự alphabet, tôi cũng làm tốt. Cùng lúc đó, các bác sĩ trị liệu về ngôn ngữ và thể chất cùng cô Clanton cũng đã được mời đến phòng trị liệu chức năng và lặng lẽ chia sẻ vinh quang với tôi.
Mọi người tập trung trong căn phòng cũ kỹ không có cửa sổ - kể cả bản thân tôi - nghĩ rằng khả năng giao tiếp của tôi tới đó là hết mức. Nhưng chúng tôi đã lầm. Năm tháng trôi qua khả năng giao tiếp của tôi phong phú hơn và phát triển nhờ đang sống trong kỷ nguyên vi tính.
So với việc chinh phục ngọn Everest hay vượt đại dương bằng bè gỗ thì cuộc hành trình của tôi thật nhỏ nhoi nhưng đối với tôi, đó là cả một kỳ tích. Nhờ đó, Thượng đế có thể giúp tôi chinh phục những ngọn núi cao hơn và vượt qua được đại dương rộng lớn. Vì giờ đây, Người đã giúp tôi phá vỡ biên giới câm lặng đã giam giữ tôi suốt 11 năm trời.
- William L. Rush Cập nhật : 19/06/07 ------------------------------ ... ------------------------------
---------- Hani ---------- Ngày tôi gặp Hani Irmawati, cô bé mới mười bảy tuổi, nhút nhát đứng một mình trong bãi đậu xe của một trường quốc tế ở Indonesia, nơi tôi đang dạy tiếng Anh. Học phí của trường rất cao và trường không nhận học sinh người Indonesia. Cô bé tiến lại phía tôi và khẩn khoản nhờ tôi dạy tiếng Anh. Tôi nhận ra rằng một cô gái người Indonesia còn trẻ lại ăn mặc xoàng xĩnh như vậy chắc phải can đảm lắm mới dám đến nhờ giúp đỡ một việc như thế.
"Sao em lại muốn học tiếng Anh?". Tôi hỏi và cứ nghĩ rằng cô bé sẽ trả lời là để xin việc ở một khách sạn địa phương nào đấy.
Cô bé trả lời với một sự tự tin ẩn giấu: "Em muốn đi học đại học ở Mỹ". Giấc mơ cao vời của em làm tôi muốn rơi nước mắt.
Tôi tự nguyện dạy thêm cho em mỗi ngày sau giờ dạy ở trường. Suốt mấy tháng sau đó, mỗi ngày Hani đều thức dậy lúc năm giờ sáng để đón xe buýt đến trường. Trong một tiếng ngồi trên xe, em học bài ở trường rồi chuẩn bị bài tiếng Anh mà tôi đã giao cho ngày hôm trước. Vào bốn giờ chiều em đến học với tôi, người đã mệt lả nhưng vẫn sẵn sàng học tiếp. Cứ như thế, khi Hani nỗ lực với môn tiếng Anh trình độ đại học thì tôi cũng thấy quý mến cô bé hơn. Cô gái ấy học siêng năng hơn phần lớn học sinh giàu có người nước ngoài mà tôi từng biết.
Hani sống trong một căn nhà chỉ có hai phòng cùng với bố mẹ và hai em trai. Bố làm bảo vệ cho một tòa cao ốc, và mẹ thì làm nghề giúp việc. Khi đến gặp họ tại nơi ở thì tôi biết rằng thu nhập hằng năm của hai vợ chồng gộp lại chỉ có 750 đô-la, một số tiền không đủ chi phí cho một tháng học đại học tại Mỹ. Dù khả năng tiếng Anh của Hani ngày càng tăng, nhiệt tình của cô bé ngày càng lớn, nhưng tôi lại dần cảm thấy nản chí.
Một buổi sáng tháng 12 năm 1998, tôi nhận được thông báo về một suất học bổng của một đại học lớn của Mỹ. Tôi nôn nóng mở phong bì tìm hiểu những điều kiện bên trong và rồi thất vọng vứt ngay mẫu đơn đó. Tôi nghĩ Hani không cách nào đáp ứng được những tiêu chuẩn này. Cô bé chưa từng dẫn dắt một câu lạc bộ hay một tổ chức nào, đơn giản là ở trường cô học không hề có câu lạc bộ hay tổ chức nào cả. Cô bé cũng chẳng có người hướng dẫn hay điểm trắc nghiệm chuẩn gây ấn tượng, đơn giản là chẳng hề có một loại trắc nghiệm nào như thế cả.
Tuy nhiên, cô bé lại có một sự quyết tâm hơn bất cứ học sinh nào tôi từng biết. Và hôm đó, khi Hani đến lớp học, tôi nói cho cô bé biết về suất học bổng đó. Tôi cũng nói luôn rằng tôi nghĩ cô bé không cách nào đáp ứng những điều kiện đó được. Tôi khuyên em, và đúng như từ tôi đã dùng, là phải "thực tế" về tương lai và đừng quá mơ tưởng đến nước Mỹ. Ngay cả khi tôi tỏ ra bi quan đến thế nhưng Hani vẫn không chút sờn lòng.
Cô bé hỏi: "Thầy sẽ đăng ký tên em chứ?". Tôi không nỡ làm cô bé thất vọng. Khi điền vào tờ ghi danh, tôi buộc phải ghi sự thật về học lực của cô bé, nhưng có kèm theo lời khen ngợi về lòng can đảm và tính kiên trì của Hani. Tôi dán phong bì lại và bảo với Hani rằng khả năng cô bé được chấp nhận hoặc là rất mong manh hoặc là sẽ không được gì cả.
Trong những tuần lễ tiếp theo, Hani nỗ lực học tiếng Anh nhiều hơn nữa, và tôi đã sắp xếp để cô bé dự kì thi khả năng lưu loát Anh ngữ tại Jakarta. Toàn bộ bài thi được lập trình sẵn trên máy tính quả là một thách thức lớn với những ai chưa hề chạm đến máy vi tính bao giờ. Suốt hai tuần liền, chúng tôi làm quen với những bộ phận của máy vi tính và cách chúng vận hành. Sau đó, ngay trước khi Hani đến Jakarta, cô bé nhận được tin của tổ chức cấp học bổng. Tôi nghĩ thầm, tin từ chối đến vào lúc này thật quá tàn nhẫn. Để chuẩn bị cho cô bé đối phó với cảm giác thất vọng, tôi mở thư và đọc cho em nghe. Thật không thể tin được! Hani đã được chấp nhận.
Tôi mừng rỡ nhãy cẫng khắp phòng. Hani đứng gần đó, khẽ mỉm cười, nhưng chắc là em rất ngỡ ngàng vì sự ngạc nhiên của tôi. Suốt một tuần lễ sau đó, hình ảnh khuôn mặt của em vào khoảnh khắc ấy cứ hiện mãi trong tôi. Cuối cùng tôi nhận ra rằng chính tôi là người đã học được ở Hani điều mà cô bé đã biết ngay từ lúc đầu: Thành công không chỉ nhờ vào trí thông minh mà còn nhờ vào sự tận tụy để làm việc chăm chỉ và lòng dũng cảm để tin vào chính mình.
Jamie Winship Cập nhật : 16/06/07 ------------------------------------------------------------
(TẤT CẢ CÁC BÀI ĐƯỢC CẬP NHẬT NHỮNG NGÀY TRƯỚC, ĐỰƠC CHÚNG TÔI CHUYỂN VÀO MỤC " Recycle Bin ")
Cty TNHH Tín An (Khuôn mẫu ngành nhựa, cơ khí cx, sp nhựa) ĐT : 84-8-2655371; Fax : 84-8-2659125 Email : vantancnc@yahoo.com
- photos: 1 (42 kB)
- Album was created 3 years 1 month ago and modified 3 years ago
- No comments
- Hits today: 0
- Visitors today: 0
-
| | | | | | | |